Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, nhóm Ngữ văn, Tổ Khoa học Xã hội, Trường THCS Trần Đăng Ninh đã tổ chức buổi sinh hoạt chuyên môn với chủ đề “Đổi mới phương pháp dạy học và khơi nguồn sáng tạo văn học”. Buổi sinh hoạt là dịp để giáo viên trao đổi kinh nghiệm, thống nhất định hướng chuyên môn và đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh.
Mở đầu buổi sinh hoạt, cô giáo Trần Thị Tuyết Mai trình bày tham luận “Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn”. Nội dung tham luận tập trung phân tích cách thiết kế bài học, tổ chức hoạt động và kiểm tra, đánh giá theo định hướng lấy học sinh làm trung tâm.
Trên cơ sở so sánh hai bộ sách giáo khoa Kết nối tri thức với cuộc sống và Cánh Diều, cô Mai chỉ ra những điểm tương đồng cốt lõi trong việc thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Cả hai bộ sách đều tổ chức nội dung theo thể loại và kiểu văn bản; tích hợp các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe; đồng thời chú trọng hình thành phương pháp học tập và khả năng vận dụng kiến thức của học sinh.
Bên cạnh những điểm tương đồng, mỗi bộ sách có một định hướng tiếp cận riêng. Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống chú trọng chiều sâu trải nghiệm, tăng cường sự kết nối giữa văn bản với đời sống và bồi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ. Trong khi đó, bộ Cánh Diều thể hiện tính chuẩn mực, tường minh và hệ thống, giúp giáo viên và học sinh dễ dàng nhận diện phương pháp tiếp cận từng thể loại, kiểu văn bản. Việc phân tích những đặc điểm này giúp giáo viên chủ động lựa chọn cách tổ chức bài học phù hợp, đồng thời phát huy được ưu thế của mỗi bộ sách.
Đối với hoạt động đọc hiểu, tham luận đề xuất tổ chức bài học theo ba chặng. Chặng đầu tiên là giới thiệu chủ đề, cấu trúc bài học, tri thức ngữ văn và kết nối với hoạt động khởi động. Chặng thứ hai tập trung hướng dẫn học sinh đọc, khám phá các văn bản chính dựa trên đặc trưng thể loại. Chặng cuối cùng là đọc văn bản kết nối, luyện tập và vận dụng. Quy trình này giúp học sinh không chỉ hiểu nội dung của một văn bản cụ thể mà còn từng bước hình thành phương pháp tự đọc và khám phá những văn bản khác cùng thể loại.
Trong dạy viết, cô Mai nhấn mạnh sự chuyển đổi từ việc cung cấp bài văn mẫu sang hướng dẫn học sinh thực hiện đầy đủ tiến trình tạo lập văn bản. Kiến thức về thể loại, cấu trúc và ngôn ngữ được hình thành trong phần đọc hiểu sẽ trở thành nền tảng cho hoạt động viết. Bài viết tham khảo không phải là khuôn mẫu để học sinh sao chép hoặc học thuộc mà được sử dụng như một “bản thiết kế”, giúp các em nhận diện cấu trúc, cách triển khai ý và những tiêu chí cần có của một bài viết tốt.
Quy trình dạy viết được tổ chức theo bốn bước: tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài; phân tích bài viết tham khảo; thực hành tìm ý, lập dàn ý, viết và chỉnh sửa; cuối cùng là đánh giá, tổng kết và rút kinh nghiệm. Giáo viên có thể sử dụng bảng kiểm, phiếu tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng và rubric bốn mức độ để giúp học sinh nhận ra ưu điểm, hạn chế và chủ động hoàn thiện bài viết. Nhờ đó, việc đánh giá không chỉ tập trung vào sản phẩm cuối cùng mà còn coi trọng sự tiến bộ của học sinh trong suốt quá trình học tập.
Đối với kĩ năng nói và nghe, tham luận đề xuất quy trình gồm ba giai đoạn: chuẩn bị trước khi nói, trình bày bài nói và đánh giá sau khi nói. Học sinh được rèn luyện khả năng xác định mục đích, lựa chọn nội dung, lập dàn ý, trình bày tự tin; đồng thời biết lắng nghe, ghi chép, đặt câu hỏi và phản hồi phù hợp. Qua đó, giờ học Ngữ văn thực sự trở thành môi trường phát triển đồng bộ năng lực ngôn ngữ, tư duy và giao tiếp.
Tiếp nối tham luận của cô Trần Thị Tuyết Mai về đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn, cô Trương Thị Thu Hường chia sẻ những giải pháp khơi nguồn cảm hứng và phát huy khả năng sáng tạo của học sinh.
Theo cô Hường, muốn học sinh yêu thích môn Ngữ văn, giáo viên cần đổi mới từ cách ra đề, hình thức tổ chức hoạt động đến phương pháp hướng dẫn và đánh giá sản phẩm học tập. Đề Ngữ văn cần chuyển dần từ yêu cầu ghi nhớ, tái hiện kiến thức sang những câu hỏi mở, gắn với năng lực vận dụng, khả năng liên hệ thực tế và sự sáng tạo của học sinh.
Một đề bài hiệu quả không chỉ giúp giáo viên biết học sinh đã ghi nhớ được những gì mà còn cho thấy các em suy nghĩ như thế nào, cảm nhận ra sao và có thể tạo ra sản phẩm gì từ kiến thức đã học. Tuy nhiên, đề mở không có nghĩa là đề dễ hoặc không có giới hạn. Đề bài vẫn cần có yêu cầu rõ ràng, định hướng phù hợp và tiêu chí đánh giá cụ thể, đồng thời tạo điều kiện để học sinh lựa chọn nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau.
Chẳng hạn, khi học tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng của Nguyễn Huy Tưởng, thay vì chỉ yêu cầu phân tích nhân vật Trần Quốc Toản, giáo viên có thể đặt ra những câu hỏi như: “Từ hành động của Trần Quốc Toản, em hãy trình bày suy nghĩ về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với đất nước” hoặc “Nếu được gặp Trần Quốc Toản, em muốn nói điều gì với người anh hùng trẻ tuổi ấy?”. Những câu hỏi này vừa giúp học sinh hiểu sâu nhân vật, vừa tạo cơ hội để các em liên hệ bài học với trách nhiệm của tuổi trẻ trong cuộc sống hôm nay.
Bên cạnh việc đổi mới cách ra đề, cô Hường đề cao sự đa dạng trong hình thức viết. Nếu học sinh luôn phải viết theo một khuôn mẫu cố định, việc học Văn dễ trở nên máy móc và thiếu cảm xúc. Sau khi học bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, ngoài nhiệm vụ phân tích tác phẩm, giáo viên có thể yêu cầu học sinh viết nhật kí tưởng tượng về một buổi câu cá cùng nhà thơ hoặc viết đoạn văn với chủ đề “Một buổi chiều thu trong mắt em”. Qua đó, học sinh được vận dụng hình ảnh, màu sắc, âm thanh và cảm xúc từ tác phẩm để tạo nên những sản phẩm mang dấu ấn cá nhân.
Trong quá trình hướng dẫn viết, giáo viên cần hạn chế cung cấp những bài văn mẫu hoàn chỉnh để học sinh học thuộc. Thay vào đó, giáo viên nên trang bị cho các em những công cụ cần thiết như cách tìm ý, lập dàn ý, lựa chọn dẫn chứng, xây dựng luận điểm, sử dụng ngôn ngữ và tự chỉnh sửa bài viết. Cách dạy này giúp học sinh hình thành năng lực viết thực chất, phát triển tư duy độc lập và từng bước tạo dựng phong cách diễn đạt riêng.
Để nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo, giờ học Ngữ văn cũng cần trở thành một không gian mở, nơi học sinh được nói, được viết, được trao đổi, thử nghiệm và sửa sai. Giáo viên có thể tổ chức các hoạt động như thảo luận nhóm, tranh biện, đóng vai, sân khấu hóa, thuyết trình, viết sáng tạo hoặc triển lãm sản phẩm.
Với tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng, học sinh có thể nhập vai Trần Quốc Toản, người lính, người dân hoặc một học sinh trong xã hội hôm nay để trình bày cách nhìn của mình về nhân vật. Hoạt động này giúp các em tiếp cận tác phẩm từ nhiều góc độ, đồng thời phát triển năng lực giao tiếp, hợp tác và trình bày quan điểm. Giáo viên cần tôn trọng những cách cảm nhận khác biệt nếu học sinh đưa ra được căn cứ phù hợp và có sự lí giải thuyết phục.
Cô Hường cũng nhấn mạnh vai trò của việc chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm giữa các giáo viên. Sau mỗi hoạt động viết hoặc hoạt động sáng tạo, giáo viên có thể lựa chọn một số sản phẩm của học sinh để cùng phân tích. Việc phân tích không chỉ nhằm biểu dương những bài viết tốt mà còn giúp làm rõ điểm sáng tạo, sức thuyết phục, những hạn chế và hướng cải thiện của từng sản phẩm.
Thông qua hai nội dung tham luận, nhóm Ngữ văn đã làm rõ những định hướng quan trọng trong đổi mới dạy học: lấy học sinh làm trung tâm; chuyển từ truyền thụ kiến thức một chiều sang tổ chức các hoạt động trải nghiệm, thực hành và sáng tạo; gắn kết chặt chẽ các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe; đồng thời coi trọng cả quá trình học tập và sản phẩm của học sinh.
Buổi sinh hoạt chuyên môn cũng góp phần thống nhất một số nguyên tắc: đề bài mở nhưng yêu cầu phải rõ ràng; khuyến khích sáng tạo nhưng phải có căn cứ; tôn trọng tiếng nói cá nhân nhưng vẫn bảo đảm chuẩn mực về kiến thức và ngôn ngữ; đánh giá kết quả nhưng đồng thời chú ý đến sự tiến bộ của từng học sinh.
Với tinh thần chủ động, trách nhiệm và cầu thị, hoạt động sinh hoạt chuyên môn đã góp phần nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên, đồng thời mở ra những hướng tiếp cận thiết thực để mỗi giờ học Ngữ văn trở nên sinh động, hấp dẫn và giàu ý nghĩa. Qua đó, học sinh không chỉ được trang bị kiến thức mà còn được bồi dưỡng tình yêu văn học, khả năng cảm thụ, tư duy sáng tạo và bản lĩnh thể hiện tiếng nói của chính mình.










Tác giả: THCS Trần Đăng Ninh
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Công khai đầu năm học theo TT09 BGDĐT ngày 03/06/2024
Thời gian đăng: 17/10/2025
lượt xem: 333 | lượt tải:65Tuyên truyền pháp luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Thời gian đăng: 22/05/2025
lượt xem: 516 | lượt tải:150
THÔNG BÁO LỊCH KHÁM SỨC KHỎE ĐỊNH KỲ CHO HỌC SINH NĂM HỌC 2026–2027